Đau dạ dày và những điều chưa biết về bệnh ung thư dạ dày
November 23, 2012 by admin
Filed under Bài thuốc hay
Mỗi năm thế giới có khoảng 600.000 ca ung thư thực quản và dạ dày, riêng ở Việt Nam là 7.000 ca.
Điểm mặt thủ phạm bệnh ung thư dạ dày:
Thuốc lá: Khói thuốc lá là một trong số những “thủ phạm” gây nên tình trạng ung thư dạ dày, đặc biệt bệnh nhân đã mắc ung thư dạ dày nếu vẫn tiếp tục duy trì thói quen hút thuốc đồng nghĩa bạn đang đến gần hơn với tiếng gọi của tử thần.
Lý do là bởi hệ miễn dịch của những người nghiện thuốc sẽ kém hơn những người không hút thuốc vì thế khả năng phòng ngừa và chống lại các tế bào gây ung thư cũng sẽ yếu hơn.
Đồ uống có cồn: Cũng là một “đồng minh” của thuốc lá nên đồ uống có cồn cũng dễ đẩy bạn có nguy cơ mắc chứng ung thư dạ dày. Cho nên, đồ uống có cồn nói chung cũng nên nằm trong danh sách “cấm” sử dụng.
Vi khuẩn và virus: Để tránh sự lây lan, tấn công cả những loại vi khuẩn và virus gây bệnh trong đó có cả những loại gây ảnh hưởng đến tình trạng ung thư dạ dày. Nên ăn uống lành mạnh để tăng cường hệ miễn dịch, rửa tay thường xuyên để chống lại vi khuẩn và virus…
Phát hiện sớm, điều trị khỏi bệnh ung thư dạ dày
Ung thư dạ dày thường có 3 phương pháp điều trị chính là phẫu thuật, truyền hóa chất và xạ trị. Bác sĩ sẽ căn cứ vào tình trạng bệnh, mức độ phát triển của bệnh và sức khỏe của bệnh nhân để quyết định phương pháp điều trị.
|
Tìm hiểu thêm về: Trang tình hình mới nhất về bài thuốc nam, với điều trị hiệu quả căn bệnh thoái hóa đốt sống cổ và lưng hay những tình hình mới nhất về phòng trị khỏi bệnh thoái hóa cột sống được cập nhật liên tục. |
Hãy nhớ rằng ung thư dạ dày ở giai đoạn đầu có thể có những biểu hiện không rõ ràng khiến người bệnh nhầm tưởng với những rắc rối đơn giản khác. Tuy nhiên, ung thư dạ dày nếu sớm được phát hiện thì tỷ lệ điều trị thành công là rất cao thậm chí có thể lên đến 100% (ung thư chỉ khu trú ở lớp niêm mạc được coi là giai đoạn 0 có thể chữa khỏi hoàn toàn, giai đoạn 1 là chưa di căn hạch, chưa qua hết thành dạ dày tỷ lệ thành công có thể trên 80%) . Cho nên thường xuyên đến bệnh viện thăm khám sức khỏe định kỳ sẽ giúp bạn sớm phát hiện ra những bất thường về sức khỏe nói chung và dạ dày nói riêng, để có hướng khắc phục tích cực và kịp thời.
Chú ý: Mỗi năm tại Mỹ có khoản 24.000 người mắc chứng ung thư dạ dày. Khoảng 15.000 người tử vong do ung thư dạ dày.
Theo kết quả từ một cuộc diễn đàn lần đầu tiên về căn bệnh ung thư tại ASEAN, cho thấy tỉ lệ tử vong của bệnh ung thư dạ dày tại Việt Nam cao hơn 4 đến 5 lần so với Lào, Philipines và Thái Lan.
Những dấu hiệu nhận biết bệnh dạ dày:
- Giảm cân đột ngộ không rõ nguyên nhân
- Mất vị giác
- Đau ở vùng dạ dày
- Ợ nóng, khó tiêu hóa
- Nôn mửa, buồn nôn có thể có hoặc không có máu
- Bụng có dấu hiệu trương lên
- Mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt.
Ai dễ có nguy cơ ung thư dạ dày?
- Những người có chế độ ăn uống nhiều muối và là “nạn nhân” của khói thuốc lá
- Chế độ ăn uống nghèo nàn trái cây và rau xanh
- Do di truyền
- Người làm việc trong môi trường độc hại, thường xuyên tiếp xúc với hóa chất
- Là nạn nhân của rượu và thuốc lá
- Đã từng có tiền sử mắc loại vi khuẩn HP
- Thường xuyên bị sưng viêm, gặp những rắc rối với dạ dày
- Ung thư dạ dày ít khi xảy ra với những người có độ tuổi 40, thường gặp với người trên 55 tuổi
- Tỷ lệ nam giới mắc ung thư dạ dày cao gấp 2 lần so với phụ nữ
Mặt nạ dưỡng da những ngày mùa đông
November 22, 2012 by admin
Filed under Bài thuốc hay
Để có làn da đẹp những ngày mùa đông là ước ao của nhiều bạn trẻ. Mặt nạ dưỡng da những ngày mùa đông với những thảo dược từ tự nhiên mang sức sống tươi trẻ cho làn da đẹp.
-Quả hạnh nghiền nát thêm một chút nước hoa hồng, tạo thành lớp bột hồ và thoa lên mặt, đợi đến khi khô thì rửa lại bằng nước sạch.
- Trộn 10 quả hạnh, 2 thìa bộ yến mạch, 4 thìa kem sữa, 2 thìa đất sét cao lanh và một nửa quả chanh vắt lấy nước cùng với 1 trái bơ cùi. Đánh thật nhuyễn hỗn hợp trên, dùng để thoa lên mặt và 20 phút sau thì rửa sạch lại với nước.
- Trộn đều 1 qủa trứng, 1/2 thìa dầu oliu và 1 thìa sữa, sau đó mới cho 1/4 thìa muối và 1 thìa bột mì, lắc đều đến khi được một dung dịch mịn và sánh như hồ dùng làm mặt nạ
| Tìm hiểu thêm về:
Những tin tức mới nhất về bài thuốc nam, với cách điều trị tốt nhất bệnh thoái hóa đốt sống cổ và lưng, hay những tin tức mới nhất về chữa trị tốt nhất bệnh thoái hóa cột sống được đăng tải thường xuyên. |
- Lấy lòng đỏ 1 quả trứng, trộn với 1 thìa sữa bột và nửa thìa mật ong. Đánh thật đều hỗn hợp lên. Khi đã tạo được một dung dịch bột nhão, thì thoa đều lên trên mặt. Đợi cho đến khi khô, thì rửa sạch lại với nước ấm.
- Bột yến mạch được sử dụng để “chế” mặt nạ với mục đích chính là giúp làn da bạn không bị “tấn công” bởi những cơn gió bấc khô hanh.
Bạn hãy trộn bột yến mạch với lòng đỏ trứng gà với nhau theo tỉ lệ bằng nhau, cuối cùng thêm một vài giọt mật ong.
Thoa đều hỗn hợp này lên mặt trong vòng 20 phút, sau đó rửa sạch với nước ấm và dùng khăn mềm lau khô. Sau khi đắp mặt nạ xong bạn sẽ cảm nhận được những biến chuyển tích cực trên làn da, làn da sẽ trở nên mềm hơn và tươi trẻ hơn rất nhiều
Bí quyết có làn da mềm trong ngày lạnh
November 21, 2012 by admin
Filed under Bài thuốc hay
Thời tiết hanh khô dễ dẫn đến hệ luỵ khiến da sẽ bị khô, nẻ như da rắn, rất khó chịu. Tuy nhiên, không có nghĩa là bạn sẽ bị động đợi cho mùa đông qua đi và sở hữu một làn da mềm mịn. Hãy lưu ý những gợi ý dưới đây có được làn da mềm mịn như ý muốn ngay cả trong ngày lạnh.
Uống đủ lượng nước cơ thể cần
Đây là điều quan trọng hàng đầu giúp cho làn da không bị khử nước. Khử nước không chỉ nguy hại đến sức khoẻ mà còn khiến cho làn da dễ bị khô nẻ.
Mỗi ngày lượng nước cơ thể bạn cần là khoảng 8 cốc, ngoài nước lọc bạn có thể uống thêm sữa hoặc nước hoa quả.
Cơ thể được cung cấp đủ lượng nước cần thiết không chỉ khiến cho làn da được căng mịn trong những ngày đông mà còn giúp loại trừ mụn trứng cá.
Dưỡng da
Dưỡng da là bước chăm sóc da rất quan trọng, giúp cung cấp độ ẩm cũng như những dưỡng chất thiết yếu cho làn da. Dưỡng da vào mùa đông nên được tiến hành vào buổi sáng sau khi ngủ dậy và buổi tối trước khi đi ngủ. Một bí quyết nhỏ là nên thường xuyên mang theo kem dưỡng ẩm bên mình để khi cần có thể sử dụng ngay.
Nhiều người chỉ chăm dưỡng ẩm cho vùng da mặt mà quên dưỡng ẩm cho da tay và chân. Đây là những vùng da dễ bị khô nẻ, thô ráp.
Trong trường hợp da quá khô, hãy dùng những sản phẩm được chiết xuất từ thiên nhiên có chứa nước và giàu chất seramit (một loại axit béo). Sử dụng sáng và tối, tốt nhất la sau khi tắm.
Đeo găng tay
Nên hình thành thói quen đeo găng tay khi làm việc nhà hoặc khi tiếp xúc với nước, bởi đó sẽ là cách hữu hiệu để giúp cho đôi tay không bị thô ráp trong những ngày mùa đông.
Lưu ý rằng ngay cả khi đi ra ngoài bạn cũng nên giữ ấm đôi bàn tay bằng cách đeo găng tay.
Tắm nước ấm
Tắm nước ấm trong những ngày mùa đông sẽ giúp cho máu lưu thông dễ dàng, rất có lợi cho sức khoẻ và còn là giải pháp cung cấp độ ẩm cho làn da. Lưu ý là nước ấm chứ không phải là nước quá nóng vì nước nóng sẽ khiến da bị tổn thương và khô hơn rất nhiều.
Xông hơi
Thời gian trước khi đi ngủ là lúc tốt nhất để thực hiện chế độ chăm sóc da và để rửa sạch mọi chất trang điểm và bụi bẩn bám vào da suốt cả một ngày.
Dùng một chiếc máy xông hơi da mặt hoặc ngâm khăn rửa mặt vào nước có chứa cây thuốc nam, vắt qua và đưa khăn vào sát mặt. Xông hơi khuôn mặt trong khoảng nửa phút đến một phút. Hơi nước sẽ hoàn toàn mở các lỗ chân lông trên khuôn mặt.
Cây ké đầu ngựa – Cây ké đầu ngựa tán phong, tiêu độc
September 18, 2012 by admin
Filed under Bài thuốc hay
Cây ké đầu ngựa có tên khoa học là Xanthium strumarium L., Họ Cúc – Asteraceae hay cây ké đầu ngựa còn có tên khác là cây Thương nhĩ, cây Phắt ma.
Đặc điểm thực vật, phân bố của cây ké đầu ngựa: Cây Ké đầu ngựa nhỏ, cao độ 2m, thân có khía rãnh. Lá mọc so le, có lông ngắn, cứng, mép răng cưa. Cụm hoa hình đầu, quả giả hình thoi, có móc. Cây mọc hoang khắp nơi trong cả nước.
Cách trồng cây ké đầu ngựa: Trồng Ké đầu ngựa bằng hạt vào mùa xuân, cây mọc cao 6 -7m đánh trồng chỗ khác.
Bộ phận dùng, chế biến của cây ké đầu ngựa: Quả Ké sao vàng. Dùng toàn bộ phần trên mặt đất của cây phơi hay sấy khô.
Công dụng, chủ trị Ké đầu ngựa: Ké có vị ngọt, tính ôn, làm ra mồ hôi, tán phong, chữa đau nhức tê dại, mờ mắt, viêm mũi, chân tay co rút. Tiêu độc, mụn nhọt, lở loét và chữa bướu cổ.
Liều dùng Ké đầu ngựa: Quả Ké sao vàng 4 – 8g, dưới dạng thuốc sắc.
Chú ý: Uống nước sắc quả Ké phải kiêng thịt lợn vì gây dị ứng nổi quầng đỏ (chưa rõ nguyên nhân).
Đơn thuốc có cây ké đầu ngựa:
Chữa mũi chảy nước trong: Quả Ké sao vàng, tán bột, uống 4 – 8g/ngày.
Chữa thủy thũng, bí tiểu tiện: Quả Ké (đốt tồn tính); Đình lịch tử. Hai vị bằng nhau, tán bột. Uống với nước, ngày 2 lần, mỗi lần 8g.
Chữa phong thấp mẩn ngứa: Lá Ké tán bột 8g, uống với rượu ngâm Đậu đen.
Chữa các chứng phong ngứa dị ứng: Ké đầu ngựa 15g, hoa Kinh giới 10g, Muồng trâu 10g, cỏ Mần trầu 15g, Cam thảo đất 10g, Bạc hà 10g, Bèo cái 15g, lá Nghể 10g, sắc với 3 bát nước, lấy 1 bát, uống 1 thang/ ngày.
Chữa tổ đỉa: Quả ké 50g, thổ phục linh 50g, hạ khô thảo 50g, vỏ núc nác 30g, sinh địa 20g, hạt dành dành 15g. Tán bột làm viên. Ngày uống 20-25g.
Chữa nổi mày đay: Loại mày đay từng đám lặn chỗ này, mọc chỗ khác. Thương nhĩ tử 10g, kinh giới 15g, bạc hà 15g. Tất cả rửa sạch nấu lấy nước (bỏ bã) nấu cháo. Loại mày đay đỏ, nóng, ngứa nhiều. Hạt thương nhĩ tử 15g, sinh địa 30g, bạc hà 12g. Nấu lấy nước uống.
Cây kim ngân – Cây kim ngân chữa bệnh ngoài da, dị ứng
September 1, 2012 by admin
Filed under Bài thuốc hay
Cây kim ngân có tên khoa học là Lonicera japonica Thumb., Họ Kim ngân – Caprifoliaceae hay nhiều người vẫn gọi cây kim ngân là Nhẫn đông (có 6 loại Kim ngân khác nhau).
Đặc điểm thực vật, phân bố của Kim ngân: Kim ngân là loại cây mọc leo, thân có thể vươn dài tới 10m hay hơn. Cành lúc còn non màu lục nhạt, có phủ lông mịn. Cành già chuyển màu nâu đỏ nhạt, nhẵn. Lá mọc đối, đôi khi mọc vòng 3 lá một, hình trứng dài. Hoa hình ống xẻ 2 môi, môi lớn lại xẻ thành 3 hay 4 thùy nhỏ, lúc đầu màu trắng, sau khi nở một thời gian chuyển màu vàng. Kim ngân là một loại cây mọc hoang tại nhiều tỉnh vùng núi nước ta, nhiều nhất ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Bắc Thái, Quảng Ninh, Phú Thọ.
Cách trồng Kim ngân: Trồng Kim ngân bằng giâm cành. Cắt những cành bánh tẻ khoanh tròn, chôn xuống đất, để nổi đoạn sau cùng, tưới nước đều thời kỳ đầu. Tốt nhất trồng vào tháng 2 – 3 và 9 – 10. Trồng ở bờ rào làm thuốc và làm cảnh.
Bộ phận dùng, chế biến của Kim ngân: Nụ hoa Kim ngân phơi hay sấy khô, cành và lá phơi hay sấy khô. Hái hoa khi sắp nở hoặc mới nở, màu còn trắng, chưa chuyển vàng là tốt.
Công dụng, chủ trị Kim ngân: Dùng Kim ngân chữa mụn nhọt, các chứng ngứa, lở, dị ứng, rôm sẩy, lên đậu, lên sởi, tả lỵ.
Liều dùng Kim ngân: Dùng 4 -6g hoa hay 10 – 12g lá, dạng thuốc sắc. Có thể dùng dạng thuốc cao hay rượu thuốc.
Chú ý: Cần chú ý phân biệt cây Kim ngân với cây Lá ngón (rất độc) vì có màu dây và lá tương tự.
Đơn thuốc có Kim ngân:
Thuốc tiêu độc trị mẩn ngứa, mụn nhọt, ban sởi: Kim ngân hoa 20g, Ké đầu ngựa 15g, lá Dâu 20g, Nước 600ml sắc còn 200ml uống một lần. Ngày uống 3 lần, uống đến khỏi (nếu là Kim ngân dây dùng liều 30g).
Trị thái âm ôn bệnh mới phát, tà khí ở Phế vệ, sốt mà không sợ lạnh, sáng sớm khát nước: Liên kiều 40g, Ngân hoa 40g, Khổ cát cánh 24g, Bạc hà 24g, Trúc diệp 16g, Cam thảo (sống) 20g, Kinh giới tuệ 16g, Đạm đậu xị 20g, Ngưu bàng tử 24g. Tán thành bột. Mỗi lần dùng 24g uống với nước sắc.
Trị phát bối, nhọt độc: Kim ngân hoa 160g, Cam thảo (sao) 40g. Tán bột, mỗi lần dùng 16g. Sắc với 1 chén rượu, 1 chén nước, còn 1 chén, bỏ bã, uống nóng.
Trị phát bối, ung nhọt mới phát: Kim ngân hoa nửa cân, nước 10 chén. Sắc còn 2 chén. Thêm Đương quy 80g, sắc còn 1 chén, uống.
Trị sữa không xuống, kết lại gây nên vú sưng đau, đau chịu không nổi: Kim ngân hoa, Đương quy, Hoàng kỳ (nướng mật), Cam thảo đều 10g. Sắc, thêm ½ chén rượu, uống.
Trị họng đau, quai bị: Kim ngân hoa 16g, Liên kiều 12g, Trúc diệp 12g, Ngưu bàng tử 12g, Cát cánh 8g, Kinh giới tuệ 8g, Bạc hà 4g, Cam thảo 4g, Đậu xị 18g. Sắc uống.
Dự phòng não viêm: Kim ngân hoa 20g, Bồ công anh 20g, Hạ khô thảo 20g. Sắc uống.
Cây cam thảo dây – Cây cam thảo dây chữa ho giảm nhiệt
August 31, 2012 by admin
Filed under Bài thuốc hay
Cây cam thảo dây có tên khoa học là Abrus precatorius L., Họ Đậu – Fabaceae hay tên khác của cây cam thảo dây là dây Cườm, dây Chi Chi, Tương tư đậu, Tương tư tử.
Đặc điểm thực vật, phân bố của cây cam thảo dây: cây cam thảo dây là loại dây leo, thân quấn, phân nhiều nhánh nhỏ. Lá kép lông chim. Hoa màu hồng, mọc thành chùm nhỏ ở kẽ lá hay đầu cành, cánh hoa hình cánh bướm. Cây mọc hoang và được trồng ở khắp nơi.
Cách trồng cây cam thảo dây: Trồng cây cam thảo dây bằng dây hay hạt. Trồng vào mùa xuân.
Bộ phận dùng, chế biến của cây cam thảo dây: Dùng rễ, thân và láCam thảo dây, thu hái lúc cây chớm ra hoa, phơi khô.
Công dụng, chủ trị cây cam thảo dây: Thuốc có vị ngọt mát, dùng để chữa ho, giảm nhiệt, giải độc, trị vàng da do viêm gan siêu vi trùng.
Liều dùng cây cam thảo dây: Mỗi lần dùng từ 8 – 16g, dưới dạng thuốc sắc, kết hợp với các vị thuốc khác.
Chú ý: Hạt cây cam thảo dây có màu đỏ đốm đen, có độc, không dùng làm thuốc.
Bài thuốc giải cảm ho: Lá cây cam thảo dây 8 – 10g, nước 450ml, sắc còn 150ml, chia 2- 3 lần uống trong ngày.
Loét dạ dày: dùng cao Cam thảo 2 phần, nước cất 1 phần hoà tan. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 thìa cà phê. Không uống liên tục quá 3 tuần lễ.
Chữa tâm phế suy nhược, khó thở, mệt xỉu, mạch nhỏ yếu (huyết áp thấp hay hạ đường huyết); dùng Cam thảo 12g, Đương quy 10g, Nhị sâm 8g, tán bột uống mỗi lần 4g, ngày uống 3-4 lần, hay sắc uống lúc nguy cấp.
Chữa mụn nhọt, ngộ độc: dùng cao mềm Cam thảo, ngày uống 1-2 thìa cà phê.
Ghi chú: Người tỳ vị nhiệt, bụng đầy trướng, nôn mửa, người huyết áp thấp, người bệnh đái đường không nên dùng. Không dùng với Đại kích, Nguyên hoa, Cam toại, Hải tảo.
Cây mần tưới – Cây mần tưới giải nhiệt, chữa rong huyết
August 30, 2012 by admin
Filed under Bài thuốc hay
Cây mần tưới có tên khoa học là Eupatorium fortunei Turcz., Họ Cúc – Asteraceae hay cây mần tưới còn được gọi là cây Hương thảo, Lan thảo, Trạch lan.
Đặc điểm thực vật, phân bố của cây mần tưới: cây mần tưới là loại cỏ cao 0,5 – 1,0m; cành phân nhiều nhánh, thân và cành nhẵn, màu hơi tím. Lá mọc đối, phiến lá hẹp, mép có răng cưa. Cụm hoa hình đầu, màu hơi tím, mọc ở đầu cành hay kẽ lá thành xim 2 ngả. Cây mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở nước ta.
Cách trồng cây mần tưới: Cắt cây mần tưới thành đoạn dài 20 – 30cm, cắm xuống đất hơi nghiêng, để 2 – 3 đốt chìm dưới đất, sau 5 – 10 ngày cây sẽ bén rễ.
Bộ phận dùng, chế biến của cây mần tưới: Thân, lá Mần tưới hoặc toàn cây, dùng tươi hay phơi khô trong mát để dùng dần.
Công dụng, chủ trị cây mần tưới:
Trừ bọ gà, mạt gà, bọ chét, rệp, mọt, chấy, rận.
Chữa kinh nguyệt không đều, các chứng đau bụng huyết ứ, sau đẻ máu hôi không sạch.
Chữa mụn nhọt, chốc lở, chấn thương.
Liều dùng cây mần tưới: Mỗi lần dùng 10 – 20g khô hoặc 50 – 150g tươi, dạng thuốc sắc. Lá Mần tưới tươi giã nát với ít muối đắp chỗ sưng đau. Dùng lá tươi rải vào ổ chó, ổ gà và giường để diệt bọ, mạt, rệp.
Đơn thuốc có cây mần tưới:
Đắp chỗ sưng tấy, mụn nhọt chưa có mủ, chấn thương bầm dập: Mần tưới lá tươi 1 nắm (40g) giã nát với muối đắp chỗ đau ngày 1 – 2 lần.
Xua muỗi, dĩm, vắt… khi đi rừng: Giã nát lá Mần tưới, bọc vải, xoa xát chân tay vùng da hở, tẩm nước Mần tưới vào xà cạp… có tác dụng chống muỗi, vắt trong 3 giờ.
Giải nhiệt, tiêu hóa tốt: Mần tưới 20g (nên hái trước khi cây có hoa, thái nhỏ rồi sấy khô) hãm với nước đun sôi hoặc sắc với 300ml nước còn 100ml, uống hàng ngày.
Giúp sạch gàu: Mần tưới tươi 25g, bồ kết (3-5 quả) đốt cháy, lá bưởi 20g đun lấy nước gội đầu. Mỗi tuần nên gội 2 lần.
Giải cảm do nắng nóng: Lá non mần tưới 100g, nấu canh ăn trong ngày. Nên ăn khi canh còn nóng. Dùng trong 3 ngày.
Kinh nguyệt không đều, đau bụng kinh: Mần tưới, củ gấu, ích mẫu, ngải cứu, nhọ nồi, mỗi vị 20g, tán nhỏ, rây thành bột mịn, trộn với bột gạo và đường kính (nấu thành sirô), làm thành viên bằng hạt lạc. Ngày uống 1 lần trước khi đi ngủ, mỗi lần 15-20 viên. Dùng trong 10-15 ngày.
Chữa rong huyết: Mần tưới 20g, ké hoa vàng, chỉ thiên, mã đề mỗi loại 15g, sắc với 3 bát nước còn 1 bát, chia uống 2 lần/ngày. Dùng trong 5 ngày.
Cây sắn dây – Cây sắn dây trị cảm mạo, giảm sốt, giã rượu
August 29, 2012 by admin
Filed under Bài thuốc hay
Cây sắn dây có tên khoa học là Pueraria thomsonii Benth., Họ Đậu – Fabaceae hay trong dân gian vẫn gọi cây sắn dây là Cát căn,Cam cát căn, Phấn cát, củ Sắn dây.
Đặc điểm thực vật, phân bố của cây sắn dây: Sắn dây là loại cây leo, dài tới 10m, rễ phát triển to lên thành củ. Thân cây hơi có lông, lá kép, gồm 3 lá chét. Hoa màu tím nhạt, mọc thành chùm ở kẽ lá. Quả giáp màu vàng nhạt, rất nhiều lông. Cây được trồng ở khắp nơi để lấy củ ăn và chế bột Sắn dây làm thuốc.
Cách trồng cây sắn dây: Trồng Sắn dây vào đầu mùa xuân bằng dây bánh tẻ. Khi trồng đào hố sâu rồi bỏ mùn rác, lấp đất. Lấy đoạn dây dài 50 – 80cm, có nhiều mắt, khoanh tròn, đặt vào hố và lấp thêm một lượt đất, ấn chặt, tưới nước cho đến khi mọc dây leo. Cây không ưa nước, thích nơi ẩm mát. Thường trồng quanh bờ rào để tận dụng đất.
Bộ phận dùng, chế biến của cây sắn dây: Dùng củ sắn dây. Thu hoạch vào vụ đông xuân, thái miếng, sấy Diêm sinh, phơi khô hoặc mài củ tươi lấy bột.
Công dụng, chủ trị cây sắn dây: Sắn dây có vị ngọt, không độc, tác dụng giảm sốt, làm ra mồ hôi, chữa bệnh sốt khát nước, đau cơ, nhức đầu, lỵ ra máu. Hoa tươi sắc uống giã say rượu.
Liều dùng Sắn dây: Ngày dùng 8 – 20g dưới dạng thuốc sắc. Sắn dây dùng riêng hay có thể phối hợp với các vị thuốc khác.
Chú ý: Bột sắn dây dùng làm thực phẩm, giải khát, giải độc, được dùng rộng rãi trong nhân dân. Khi dùng trong các thang thuốc chữa ỉa lỏng nên sao vàng rồi mới sắc.
Bài thuốc chữa cảm mạo: Sắn dây 8g, Ma hoàng, Gừng, Đại táo, Quế chi, Bạch thược, Cam thảo mỗi vị 5g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày.
Chữa rắn cắn: Lá Sắn dây 1 nắm giã nhỏ, vắt nước uống, bã đắp vết thương (sau khi đã xử lý vết thương).
Chống ngứa do mồ hôi: Bột cây sắn dây 5 g, thiên hoa phấn 5 g, hoạt thạch 20 g, trộn đều, rắc lên những nơi ẩm ngứa.
Chảy máu mũi suốt ngày không ngừng, tâm thần phiền muộn: Củ câysắn dây tươi giã nát, vắt lấy nước cốt, uống mỗi lần một chén con.
Rắn cắn: Giã lá cây sắn dây tươi vắt lấy nước uống, bã đắp lên nơi rắn cắn.
Vết thương chảy nhiều máu: Dùng lá sắn dây tươi giã nát, đắp vào vết thương.
Giã rượu: Nếu giải độc rượu nên dùng khoảng 30-40gr, sắc đậm đặc, cho bệnh nhân uống sẽ làm cơ thể nôn ra hết, dần dần tỉnh lại.
Cảm mạo, sốt, cổ gáy cứng đơ, sợ gió, không mồ hôi: cát căn 8 g, ma hoàng 5 g, quế chi 4 g, đại táo 5 g, thược dược 4 g, sinh khương 5 g, cam thảo 4 g; cho 600 ml nước, sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày.
Trẻ nhỏ cảm phong nhiệt, nôn mửa, đau đầu, kinh sợ khóc thét: Cát căn 30 g giã nát, gạo tẻ 50 g. Cát căn sắc với 2 bát nước lớn, đun cạn còn 1 bát, chắt lấy nước nấu cháo với gạo, thêm chút gừng sống và mật ong, cho trẻ ăn trong ngày.
Cảm nắng, sốt nóng, nhức đầu, khát nước, có mồ hôi, nóng ruột, nôn ọe: Bột sắn dây 12 g hòa đường uống; hoặc dùng cát căn 20 g, đậu ván (sao)12 g, giã giập, sắc nước uống trong ngày.
Cảm sốt nóng, nôn ọe, khát nước, nhức đầu: Cát căn, sài hồ, chi tử, mỗi thứ 15-20 g, sắc nước uống trong ngày.
Cây húng chanh – Cây húng chanh chữa cảm cúm, viêm họng
August 21, 2012 by admin
Filed under Bài thuốc hay
Cây húng chanh có tên khoa học là Plectranthus amboinicus (Lour) Spreng., Họ Hoa môi – Lamiaceae hay trong dân gian còn gọi cây húng chanh là cây rau Thơm lông, rau Tần, Tần dày lá.
Đặc điểm thực vật, phân bố của cây húng chanh: Húng chanh là loại cỏ, thân mọc đứng, có lông, lá có cuống, mọc đối, dày, mép lá khía tai bèo, mặt trên có lông đơn, mặt dưới lá có nhiều lông bài tiết, gân nổi rõ. Hoa màu tím đỏ, mọc thành cụm hoa. Toàn thân có mùi thơm như chanh. Cây được trồng khắp nơi ở ViệtNam.
Cách trồng cây húng chanh: Trồng húng chanh bằng thân rễ hoặc cành bò sát đất có rễ vào mùa xuân.
Bộ phận dùng, chế biến của cây húng chanh: Dùng lá húng chanh tươi, có thể phơi khô trong râm để dùng dần.
Công dụng và chủ trị của cây húng chanh:
Chữa cảm cúm: Phối hợp với các thứ lá khác để nấu nước xông, điều trị cảm cúm.
Chữa ho, viêm họng, khản tiếng: Lá húng chanh tươi ngậm với muối nuốt dần hoặc giã nhỏ với nước uống dần. Lá tươi giã nhỏ với muối đắp vết thương do côn trùng như bọ cạp, rết… cắn.
Liều dùng cây húng chanh: Mỗi lần dùng 8 – 12g. Nấu nước xông liều gấp 3 lần.
Đơn thuốc có cây húng chanh:
Bài thuốc chữa ho viêm họng: Dùng 5 – 7 lá Húng chanh, rửa sạch, ngâm nước muối. Sau đó nhai, nuốt nước dần, dùng nhiều lần trong ngày.
Cảm cúm, cảm sốt, nóng rét, nhức đầu, nghẹt mũi, ho đờm: Húng chanh 15-20 g giã vắt lấy nước cốt uống; hoặc thêm gừng, hành mỗi vị 12 g cùng sắc uống và xông cho ra mồ hôi.
Sốt cao không ra mồ hôi: Húng chanh 20 g, lá tía tô 15 g, gừng tươi 5 g cắt lát mỏng, cam thảo đất 15 g. Sắc uống nóng cho ra mồ hôi.
Ho, viêm họng: Hái vài lá húng chanh, nhai, ngậm, nuốt nước.
Ho nhiệt, ho ra máu, ho lâu ngày, viêm họng, tắc tiếng: Lá húng chanh tươi + 20g rửa sạch thái nhỏ + Đường phèn 20g. Cho 2 thứ vào bát, chưng cách thủy; xong chắt lấy nước, cho uống từ từ. Xác có thể ăn được hoặc ngậm nút lấy nước. Mỗi ngày làm 1 lần, liên tục 3-5 ngày.
Viêm họng, viêm thanh quản: Húng chanh 20 g, kim ngân hoa 15 g, sài đất 15 g, củ giẻ quạt 12 g, cam thảo đất 12 g. Sắc uống ngày một thang.
Ho: Húng chanh 10 g, lá chanh 5 g, vỏ quýt 5 g, gừng tươi 3 g, đường phèn 10 g. Sắc uống ngày một thang.
Đau nhức do ong đốt: Húng chanh 20 g, muối ăn vài hạt, tất cả đem giã nhỏ hoặc nhai kỹ, nuốt nước, bã đắp vào chỗ ong đốt.
Dị ứng, nổi mề đay: Lá húng chanh nhai nuốt nước, bã thì đắp hay xoa xát.
Cây bạch hoa xà – Cây bạch hoa xà chữa bệnh ngoài da
August 21, 2012 by admin
Filed under Bài thuốc hay
Cây bạch hoa xà có tên khoa học là Plumbago zeylanica L., Họ Đuôi công – Plumbaginaceae, cây bạch hoa xà có tên khác là bạch tuyết hoa, cây Chiến, cây Đuôi công.
Đặc điểm thực vật, phân bố của cây bạch hoa xà: Bạch hoa xà là loại cỏ cao 0,6 – 0,7m, có thân rễ, thân có đốt và nhẵn. Lá mọc so le, mép nguyên, không có lông, mặt dưới hơi trắng nhạt, hoa nhỏ màu trắng, mọc thành chùm. Cây mọc hoang khắp nơi trong cả nước.
Cách trồng cây bạch hoa xà: Trồng cây bạch hoa xà bằng cây con vào mùa xuân.
Bộ phận dùng, chế biến của cây bạch hoa xà: Thường dùng rễ Bạch hoa xà tươi hoặc lá Bạch hoa xà tươi. Giã nát rễ hoặc lá tươi, cho thêm ít muối, thêm lá Dâm bụt hoặc củ Khoai sọ sống (trọng lượng bằng nhau), giã nát trộn đều đắp lên vết thương, vết loét, nơi sưng tấy, chốc đầu, chàm (ngày 1 – 2 lần, mỗi lần 10 – 15 phút).
Công dụng, liều dùng cây bạch hoa xà: Chữa các bệnh ngoài da, vết thương, vết loét, mụn nhọt sưng tấy chưa có mủ, chữa ghẻ và chữa rắn độc cắn (giã đắp, cấm uống).
Liều dùng cây bạch hoa xà: Tùy theo diện tích viêm tấy mà tăng giảm liều lượng thuốc. Dùng nước rễ Bạch hoa xà sắc đặc để bôi chữa ghẻ.
Chú ý:
Rễ cây có chất Plumbagin mùi hắc và gây xung huyết da, gây bỏng da, vì vậy khi đắp lên vết = thương nếu thấy chỗ đắp nóng rát thì phải bỏ ra ngay.
Không dùng cho phụ nữ có thai bằng đường uống. Thuốc gây sảy thai.
Cây dễ nhầm lẫn: Lá Bạch hoa xà mới nhìn dễ nhầm với lá cây Hoa nhài, nhưng lá cây Nhài gân phụ mặt dưới có lông, lá Bạch hoa xà không có lông.
Đơn thuốc có cây bạch hoa xà:
Chữa bong gân, da thịt bầm tím, đau nhức cơ xương khớp: Rễ Bạch hoa xà 10 – 15g, đun sôi kỹ trong 4 giờ, lấy nước uống, có thể ngâm với rượu để bóp ngoài.
Tăng huyết áp: Bạch hoa xà (toàn cây) 16 g, lá dâu 20 g, hoa đại 12 g, quyết minh tử (hạt muồng) 16 g, cỏ xước 12 g, ích mẫu 12 g. Sắc uống ngày một thang.
Mụn, nhọt sưng tấy: Lá bạch hoa xà đắp cách 2-3 lớp gạc ngay trên mụn nhọt, có tác dụng làm tan nhọt. Chỉ nên đắp 30 phút. Nên cẩn thận vì có thể gây bỏng da nếu không đắp cách gạc. Nếu bị bỏng, cần dùng dung dịch acid boric loãng rửa vết bỏng.
Táo bón: Lá bạch hoa xà nấu canh với giấm hoặc chanh để ăn (có thể xào). Uống 1 bát canh, sau 1 giờ là đi ngoài được, người không mệt. Nếu muốn thôi đi ngoài, vò lá với nước lạnh, uống 1/2 chén.
Phong thấp: Rễ bạch hoa xà 12 g, dây đau xương 12 g, thổ phục linh 16 g. Sắc uống ngày một thang.
Sưng đau do chấn thương: Rễ hoặc lá bạch hoa xà giã với cơm thành bột nhão, đắp lên chỗ sưng đau.
Bong gân sai khớp: Rễ bạch hoa xà 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang. Có thể dùng rễ bạch hoa xà ngâm rượu làm thuốc xoa bóp.
Chốc lở: Lá bạch hoa xà giã nát, đắp lên tổn thương sau khi đã rửa sạch, nếu thấy nóng thì phải bỏ ra.
Đau gan, đau dạ dày: Rễ bạch hoa xà 12 g, nhân trần 20 g, cam thảo đất 16 g. Sắc uống ngày một thang.








